7 tháng 4, 2011

Tổn thương viêm tủy lan theo đường máu trên phim Xquang.

Viêm xương tủy là tình trạng nhiễm khuẩn xương, do vi khuẩn sinh mủ gây nên. Bệnh thường gây tổn thương các xương dài ở trẻ em, trong khi ở người lớn lại hay bị viêm các đốt xương sống. Bệnh gây hoại tử xương và gãy xương, dẫn đến hạn chế vận động hoặc tật nguyền nếu không được chữa trị kịp thời.


Vì sao xương bị viêm?
Có hai đường vi khuẩn vào xương và gây viêm: qua đường máu; trực tiếp từ ổ nhiễm khuẩn kế cận, hoặc do vết thương xuyên thấu. Trong phạm vi bài này chúng tôi chỉ đề cập đến trường hợp viêm xương tủy lan theo đường máu. Các yếu tố thuận lợi là: chấn thương, thiếu máu, dị vật làm tăng nguy cơ xâm nhập của vi khuẩn vào xương. Quá trình tế bào thực bào đã giải phóng ra men hủy xương. Mủ lan vào trong các mạch máu, làm tăng áp suất trong xương và làm giảm lưu lượng máu chảy; các ổ nhiễm khuẩn không được điều trị trở nên mạn tính, xương bị hoại tử do thiếu máu nuôi dưỡng, tạo thành các mảnh xương mục. Khi mủ vượt qua vỏ xương sẽ tạo thành áp-xe dưới cốt mạc hoặc mô mềm. Vi khuẩn thoát khỏi sự phòng vệ của vật chủ bằng cách bám chặt vào xương bị tổn thương, xâm nhập và sống dai dẳng bên trong nguyên bào xương, tự bao phủ và nằm bên dưới bề mặt phủ lớp màng sinh học giàu polysaccharid. Đặc điểm nổi bật của viêm xương tủy mạn tính là xương bị hoại tử, không có tế bào xương còn sống, không phát hiện được vi khuẩn vì số lượng rất ít.

Viêm xương tủy lan theo đường máu cấp tính
Nhiễm khuẩn theo đường máu chiếm khoảng 20% số trường hợp viêm xương tủy và gặp chủ yếu ở trẻ em, với tổn thương các xương dài; còn ở người lớn, người sử dụng thuốc tiêm tĩnh mạch, các đốt sống là vị trí thường bị nhiễm khuẩn.
Bệnh thường gây nhiễm khuẩn chỉ ở một xương, hay gặp nhất là xương chày, xương đùi, hoặc xương cánh tay. Vi khuẩn cư trú ở đầu xương là nơi được tưới máu tốt, ở đó ít có đại thực bào, mạng lưới xoang tĩnh mạch làm chậm lưu lượng máu, và các lỗ trên mao mạch cho phép vi khuẩn thoát vào khoảng ngoại mạch. Do cấu tạo mạch máu thay đổi theo tuổi, nhiễm khuẩn theo đường máu ở xương dài ít gặp ở người trưởng thành, nếu có thường viêm ở thân xương. Biểu hiện triệu chứng bệnh cấp tính ở trẻ em gồm: sốt cao, lạnh run, đau tại chỗ xương bị viêm, sưng, đỏ, phù ở da báo hiệu mủ lan đến vỏ xương. Đối với trẻ sơ sinh và trẻ sau dậy thì, nhiễm khuẩn có thể lan qua đầu xương vào khoang khớp; trong khi trẻ em ở lứa tuổi giữa sơ sinh và dậy thì, nhiễm khuẩn lan rộng đến vỏ xương gây ảnh hưởng đến cử động khớp nếu sụn tiếp hợp nằm trong bao khớp. Cho nên hay gặp biến chứng viêm xương tủy tương ứng ở đầu gần xương quay, xương cánh tay và xương đùi do trẻ bị viêm khớp nhiễm khuẩn ở khuỷu, vai, và hông. Chụp Xquang xương thấy các biến đổi do hiện tượng hủy mô phát hiện được sau 2-6 tuần, khi mà 50 đến 75% mật độ xương bị mất. Hiếm khi thấy được tổn thương áp-xe Brodie ở trẻ em đã bị đau trong vài tháng nhưng không bị sốt.

Viêm xương tủy mạn tính
Khi được điều trị sớm, có khoảng dưới 5% số trường hợp viêm xương tủy cấp tính tiến triển thành viêm xương mạn tính. Đặc điểm viêm xương mạn tính là diễn tiến bệnh kéo dài, có những giai đoạn im lặng, bệnh trở nặng tái diễn nhiều lần. Các ống xoang giữa xương và da có thể chứa mủ và cả các mảnh xương hoại tử. Mủ chảy ra nhiều, đau, tốc độ máu lắng tăng. Khi nhiễm khuẩn mô mềm có sốt. Các biến chứng muộn hiếm gặp gồm gãy xương bệnh lý, carcinom tế bào vảy ống xoang và thoái hóa dạng tinh bột.
Viêm xương đốt sống

Viêm tủy xương chày do nhiễm khuẩn mô mềm cẳng chân lan theo đường máu.

Vi khuẩn xâm nhập vào thân đốt sống qua các động mạch đốt sống, lan từ đĩa đệm vào khoảng gian đĩa rồi sang thân đốt sống lân cận. Nhiễm khuẩn có thể do: viêm đường tiểu, viêm màng trong tim, nhiễm khuẩn mô mềm, nhiễm khuẩn theo đường truyền tĩnh mạch; đái tháo đường, thẩm phân máu, vết thương xuyên thấu. Biểu hiện bệnh gồm các triệu chứng: đau ở cổ, lưng, ngực, bụng. Đau khi gõ vào đốt sống bị bệnh, co thắt ở cơ cạnh sống, giới hạn vận động; có thể có sốt cao...

Chữa trị bệnh như thế nào?
Có thể dùng đơn độc hay phối hợp hai phương pháp trị liệu là kháng sinh liệu pháp và phẫu thuật.
- Kháng sinh trị liệu: viêm xương tủy cấp tính ở trẻ em, hay viêm xương tủy đốt sống ở người lớn thường được điều trị khỏi với kháng sinh thích hợp, tốt nhất là theo kháng sinh đồ từ 4-6 tuần. Khi chưa có kháng sinh đồ, dựa vào các mầm bệnh hay gặp có thể dùng các loại kháng sinh sau đây: oxacillin, nafcillin, cephalosporin, hoặc vacomycin, cephalosporin thế hệ thứ ba aminoglycosid hoặc fluoroquinolon.
- Sử dụng phương pháp phẫu thuật điều trị đối với các trường hợp trẻ em bị áp-xe trong xương hay dưới màng xương. Trừ viêm cột sống ở người lớn, các trường hợp viêm xương khác thường cần phải phẫu thuật cắt lọc. Phẫu thuật loại bỏ toàn bộ xương hoại tử và mô mềm bất thường là yếu tố quyết định thành công của việc điều trị viêm xương tủy mạn tính.
(Theo SK&ĐS)

Vì sao bị viêm tủy xương?

Bệnh viêm tủy thường do nhiễm khuẩn vào máu rồi đến tủy gây ra. Trường hợp không được phát hiện và điều trị, bệnh sẽ làm tổn thương khớp, các khớp xương cứng lại hoặc phá hủy xương. Hai thể bệnh thường gặp, một là viêm tủy xương cấp, hay thấy ở trẻ em, có biểu hiện: đau bụng dữ dội, sưng đỏ ở vùng viêm (thường ở thân một xương dài) kèm sốt cao. Hai là viêm tủy xương mạn tính, xảy ra sau khi mắc bệnh cấp và phát triển thầm lặng.

Bệnh có các dấu hiệu: đau hoặc dễ bị đau, sưng, đỏ, nóng ở vùng xương bị viêm, khó cử động các khớp ở gần nơi bị viêm, nếu viêm ở cột sống thì lưng cứng ngắc, rất khó khom người như trường hợp của bạn. Bạn nên đi khám ở chuyên khoa xương khớp, nếu cần bác sĩ sẽ chỉ định các xét nghiệm máu, chụp Xquang và siêu âm để chẩn đoán chính xác bệnh. Điều trị bệnh bằng kháng sinh liều cao, có khi phải mổ dẫn lưu. Bệnh có thể gây các biến chứng nứt hoặc gãy xương và hoại tử, còi xương ở trẻ...

Bệnh viêm tủy xương

Viêm tủy xương là chứng viêm mô xương thường bắt nguồn từ nhiễm trùng, có thể ảnh hưởng đến người ở mọi lứa tuổi. Nếu không được chữa trị, bệnh sẽ làm các khớp xương cứng lại hoặc phá hỏng xương.

Đây là một nguy cơ sau khi bị gãy xương kép, và cần được đề phòng kỹ lưỡng bất cứ khi nào tủy xương bị phơi bày trong phẫu thuật xương hay khớp. Bệnh này cũng có thể do các vi sinh vật do máu mang đến. Bệnh gồm 2 dạng:

Bệnh viêm tủy xương cấp: thường thấy ở trẻ em, gồm đau bụng dữ dội, sưng và đỏ ở vùng viêm, thường ở thân một xương dài, kèm theo bệnh toàn thân và sốt cao.

Viêm tủy xương mãn: có thể xảy ra sau dạng cấp và phát triển âm ỉ.

Cả hai dạng đều được điều trị bằng kháng sinh liều cao. Trong một số trường hợp có thể cần dẫn lưu phẫu thuật. Nếu chậm loại trừ nhiễm trùng, có thể sẽ bị ngắn xương và biến dạng.

Bạn có thể nhận biết căn bệnh này qua các dấu hiệu dưới đây:

- Bị đau hay dễ bị đau.

- Dễ cáu kỉnh.

- Sưng, đỏ hoặc có cảm giác nóng ở gần vùng bị nhiễm.

- Đi đứng khó khăn hoặc khó cử động các khớp ở gần khu vực bị nhiễm.

- Đi khập khiễng.

- Lưng cứng ngắc, rất khó khom người.

Xét nghiệm máu, chụp X quang, chụp cắt lớp và siêu âm có thể giúp chẩn đoán bệnh viêm tủy xương. Việc điều trị bệnh tùy thuộc vào độ tuổi bệnh nhân, tiền sử bệnh và tình trạng bệnh.

Các biến chứng trong thời gian dài có thể bao gồm còi xương ở trẻ, nứt hoặc gãy xương và hoại tử.

Theo T.VY
Tuổi Trẻ/Healthday

Viêm tủy xương hàm

Viêm tủy xương hàm là một bệnh hay gặp, nguyên nhân thường do nhiễm khuẩn, chấn thương, răng khôn mọc lệch, thay răng, sâu răng... Có thể tổn thương tại chỗ hay bị vi khuẩn theo đường máu từ các tổ chức viêm nơi khác hoặc bệnh nhiễm khuẩn toàn thân. Khi bị viêm tủy xương, người bệnh thấy đau ở vùng viêm quanh răng, sốt cao, mệt mỏi. Nếu không được điều trị thì tình trạng đau sẽ lan rộng cả hàm, mặt và có những cơn đau dữ dội, dùng thuốc giảm đau lúc này cũng không có hiệu quả. Hàm như bị khít lại, hơi thở hôi, tăng tiết nước bọt, môi như bị trề ra. Miệng người bệnh bị sưng, biến dạng một bên mặt, da nóng đỏ, sung huyết, răng vùng sưng bị lung lay. Nếu điều trị muộn, các biến chứng thường gặp là: nhiễm khuẩn lan rộng gây viêm khớp thái dương hàm, có thể dẫn đến cứng khớp hàm, viêm cơ, áp-xe quanh hàm, nhiễm khuẩn mủ, nhiễm khuẩn huyết, gãy xương bệnh lý, biến dạng hoặc teo xương hàm. Tùy theo mức độ viêm, bác sĩ sẽ có những chỉ định dùng kháng sinh khác nhau. Người bệnh tuyệt đối không được tự ý dùng thuốc.

Để phòng bệnh hiệu quả, mọi người cần giữ gìn răng miệng hằng ngày sạch sẽ, nên đi khám răng và lấy cao răng định kỳ (6 tháng một lần). Đối với trẻ đang thay răng và người già bị rụng răng thì vệ sinh răng miệng càng phải hết sức chú ý. Đối với những người bị sâu răng, viêm lợi..., bên cạnh việc giữ gìn vệ sinh cần đi khám ở các chuyên khoa răng hàm mặt để được hướng dẫn điều trị tránh biến chứng viêm tủy xương hàm.

Phát hiện sớm viêm tủy xương

Tôi bị đau cứng vùng thắt lưng, không cúi được vì đau, triệu chứng giống như bệnh viêm tủy xương của anh tôi trước đây. Mong bác sĩ cho biết cách phát hiện sớm bệnh viêm tủy xương?

Hoàng Văn Đại (Lạng Sơn)

Nguyên nhân gây viêm tủy xương chủ yếu là do nhiễm khuẩn hoặc nhiễm các vi sinh theo máu mang đến gây viêm mô xương. Nếu để muộn hoặc không được điều trị sẽ dẫn đến hủy hoại xương hay làm cho các khớp xương cứng lại, vận động rất khó khăn. Muốn phát hiện sớm bệnh cần dựa vào biểu hiện của bệnh như sau: thể bệnh cấp tính thường gặp ở trẻ em, với các triệu chứng đau bụng dữ dội, sưng và đỏ nơi viêm, hay gặp ở một thân xương dài, sốt cao, có thể có các biến chứng còi xương ở trẻ, nứt hoặc gãy và hoại tử xương. Thể viêm tủy xương mãn thường xảy ra sau khi mắc bệnh cấp và phát triển thầm lặng, phát hiện sớm qua các dấu hiệu: bị sưng, đau, đỏ hoặc có cảm giác nóng ở nơi bị viêm; đi đứng bị đau, đi khập khiễng, lưng cứng nhắc, rất khó khom người, khó cử động các khớp liên quan vùng bị viêm. Chụp Xquang, chụp cắt lớp và siêu âm giúp chẩn đoán bệnh viêm tủy xương. Bạn nên đi khám ở bác sĩ chuyên khoa xương khớp để được chẩn đoán và điều trị sớm.

BS. Trần Văn Phong

Điều trị viêm xương tủy nhiễm khuẩn


Viêm xương tủy nhiễm khuẩn (VXTNK) hay cốt tủy viêm, là tình trạng nhiễm trùng của xương, thường là của vỏ hoặc tủy xương, do vi khuẩn sinh mủ không đặc hiệu gây nên.

Nguyên nhân

Vi khuẩn (VK) hay gặp nhất là tụ cầu vàng (khoảng 50% trường hợp). Các VK thường gặp khác bao gồm liên cầu tan huyết nhóm B, Escherichia coli và các trực khuẩn đường ruột khác, liên cầu nhóm A, trực khuẩn mủ xanh, Salmonella...

Bệnh cảnh lâm sàng

Thường chia VXTNK thành 3 thể: VXTNK đường máu, VXTNK đường kế cận và VXTNK mạn tính.

VXKTK đường máu: Chủ yếu gặp ở trẻ em với tổn thương thường ở xương dài, người lớn ít gặp hơn với tổn thương hay ở cột sống.

Triệu chứng ở trẻ em thường diễn biến cấp tính, sốt cao rét run, sưng nóng đỏ vùng tổn thương. Khi có ban đỏ vùng da tại chỗ kèm sưng phồng phần mềm thường do mủ đã vượt qua vỏ xương, màng xương lan vào phần mềm. Khớp lân cận có thể bị viêm. Ở người lớn, viêm đốt sống đĩa đệm là dạng phổ biến nhất của VXTNK theo đường máu. Bệnh nhân đau âm ỉ tại vùng tổn thương, co cơ cạnh cột sống, hạn chế vận động cột sống, ấn tại chỗ đau chói kèm triệu chứng chèn ép thần kinh như liệt, rối loạn đại tiểu tiện... do các biến chứng chèn ép của ổ áp-xe hoặc xẹp, trượt đốt sống. Triệu chứng toàn thân ban đầu có thể sốt cao, gai rét, về sau sốt nhẹ âm ỉ.

VXTNK thứ phát sau một ổ nhiễm trùng kế cận: Như tổn thương phần mềm, loét trợt do tỳ đè, viêm mô tế bào, loét da dinh dưỡng... Thông thường chẩn đoán dạng này thường chậm, khi nhiễm khuẩn đã trở thành mạn tính. Các triệu chứng đau, sốt, sưng nóng đỏ biểu hiện cấp tính có thể do ổ viêm ban đầu. Đau, tiết dịch tại chỗ dai dẳng. Khi phát triển thành viêm mạn tính thường triệu chứng toàn thân và tại chỗ không rầm rộ.

VXTNK mạn tính: Đặc trưng của VXTNK mạn tính là diễn tiến kéo dài, có những giai đoạn bệnh không hoạt động xen kẽ với những giai đoạn bùng phát trở lại. Hình thành lỗ rò từ xương ra ngoài da, chảy mủ, có khi lỗ rò thoát ra cả mảnh xương chết. Khi lỗ rò bị tắc có thể dẫn đến có một đợt bùng phát nhiễm khuẩn.

Điều trị

Nguyên tắc: chẩn đoán bệnh sớm, dùng kháng sinh đường tĩnh mạch, dẫn lưu mủ và tổ chức hoại tử (nếu có). Ngay trước khi cho thuốc cần cấy máu, cấy dịch khớp, làm nhanh xét nghiệm dịch khớp hoặc bệnh phẩm mủ tại chỗ bằng phương pháp soi tươi nhuộm gram tìm vi khuẩn. Căn cứ kết quả soi tươi nhuộm gram kết hợp với các yếu tố nguy cơ dự đoán chủng vi khuẩn để lựa chọn ngay kháng sinh thích hợp - trước khi có kết quả cấy máu hoặc dịch mủ. Kháng sinh thuộc nhóm diệt khuẩn, liều cao, khởi đầu dùng đường tĩnh mạch. Trong đa số trường hợp nên dùng kháng sinh chống tụ cầu vàng liều cao (oxacillin, nafcillin, cefazolin, hoặc vancomycin), nếu nghi ngờ nhiễm khuẩn thêm VK gram âm cần kết hợp với một thuốc thuộc nhóm cephalosporin thế hệ 3, hoặc aminoglycosid, hoặc fluoroquinolon.

Khi có kết quả kháng sinh đồ, điều trị dựa vào kết quả đáp ứng và kháng sinh đồ.

Các kháng sinh hay dùng: Tùy thuộc vào chủng vi khuẩn dự đoán. Do nhiễm tụ cầu vàng: oxacillin, hoặc cloxacillin, cephazolin, clindamycin; trường hợp tụ cầu vàng kháng methicillin có thể dùng vancomycin. Nếu do nhiễm liên cầu beta tan máu: benzylpenicillin (penicillin G). Khi nhiễm Salmonella spp: dùng ciprofloxacin (chống chỉ định ở phụ nữ có thai, trẻ em dưới 16 tuổi). Do nhiễm trực khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae: peflacin hoặc ceftriaxon, ticarcilin, fosfomycin. Trường hợp nhiễm trực khuẩn mủ xanh: dùng ceftazidim kết hợp aminoglucosid

Thời gian điều trị

VXTNK đường máu cấp tính: 4 - 6 tuần, nếu thời gian điều trị dưới 3 tuần tỷ lệ thất bại cao gấp 10 lần. Điều trị phẫu thuật trong trường hợp có áp-xe ngoài xương, dưới màng xương, kết hợp có viêm khớp nhiễm khuẩn, hoặc không cải thiện triệu chứng sau 24 - 48 giờ. Viêm đĩa đệm đốt sống: 4 - 6 tuần hoặc dài hơn. Điều trị phẫu thuật phần lớn không cần thiết, trừ khi cột sống mất vững hoặc có triệu chứng chèn ép thần kinh, hoặc áp-xe phần mềm lan rộng không thể giải quyết bằng dẫn lưu dưới da.

Cốt tủy viêm đường kế cận: phẫu thuật sớm ổ nhiễm trùng kế cận kết hợp với kháng sinh thích hợp kéo dài 4 - 6 tuần.

VXTNK mạn tính: Cần cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích của việc điều trị phẫu thuật loại trừ hẳn ổ VXTNK mạn tính. Nên dùng kháng sinh thích hợp trước khi phẫu thuật nhiều ngày để khống chế tình trạng nhiễm khuẩn, sau đó tiếp tục dùng thuốc 4 - 6 tuần đường tĩnh mạch sau mổ. Gần đây các biện pháp ghép xương, ghép phần mềm, phẫu thuật chuyển mạch nhằm cải thiện tình trạng nuôi dưỡng tại chỗ đã tạo ra những tiến bộ lớn trong điều trị VXTNK mạn tính.

Theo suckhoedoisong.vn

Bệnh viêm tủy xương

Viêm tủy xương là chứng viêm mô xương thường bắt nguồn từ nhiễm trùng, có thể ảnh hưởng đến người ở mọi lứa tuổi. Nếu không được chữa trị, bệnh sẽ làm các khớp xương cứng lại hoặc phá hỏng xương.

Đây là một nguy cơ sau khi bị gãy xương kép, và cần được đề phòng kỹ lưỡng bất cứ khi nào tủy xương bị phơi bày trong phẫu thuật xương hay khớp. Bệnh này cũng có thể do các vi sinh vật do máu mang đến. Bệnh gồm 2 dạng:

Bệnh viêm tủy xương cấp: thường thấy ở trẻ em, gồm đau bụng dữ dội, sưng và đỏ ở vùng viêm, thường ở thân một xương dài, kèm theo bệnh toàn thân và sốt cao.

Viêm tủy xương mãn: có thể xảy ra sau dạng cấp và phát triển âm ỉ.

Cả hai dạng đều được điều trị bằng kháng sinh liều cao. Trong một số trường hợp có thể cần dẫn lưu phẫu thuật. Nếu chậm loại trừ nhiễm trùng, có thể sẽ bị ngắn xương và biến dạng.

Bạn có thể nhận biết căn bệnh này qua các dấu hiệu dưới đây:

- Bị đau hay dễ bị đau.

- Dễ cáu kỉnh.

- Sưng, đỏ hoặc có cảm giác nóng ở gần vùng bị nhiễm.

- Đi đứng khó khăn hoặc khó cử động các khớp ở gần khu vực bị nhiễm.

- Đi khập khiễng.

- Lưng cứng ngắc, rất khó khom người.

Xét nghiệm máu, chụp X quang, chụp cắt lớp và siêu âm có thể giúp chẩn đoán bệnh viêm tủy xương. Việc điều trị bệnh tùy thuộc vào độ tuổi bệnh nhân, tiền sử bệnh và tình trạng bệnh.

Các biến chứng trong thời gian dài có thể bao gồm còi xương ở trẻ, nứt hoặc gãy xương và hoại tử.

T.VY (Theo Healthday)

 
Design by HD